Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất hay nhập khẩu?

Về cơ bản, nếu tính cho một rổ tiền tệ thì tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi có xuất khẩu hơn là nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái Kết luận này có vẻ ngược lại với thực tế đang diễn ra, cụ thể là thâm hụt thương mại đang tăng lên.

Trong mấy năm trước đây, trong xu hướng tự do hoá dòng vốn, chúng ta vẫn duy trì được tỷ giá hối đoái gần như cố định với mức giảm giá của VND so với đồng USD vào khoảng xấp xỉ 1%/năm; đồng thời giữ được mức lạm phát trong tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào Việt Nam gia tăng mạnh và đã có những tác động rõ rệt đối với nền kinh tế, đặc biệt là khi USD mất giá so với VND và lãi suất tăng cao đã gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất khẩu.

Tỷ giá hối đoáiTrong khi đó, một điều đáng lo ngại nữa là tốc nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh.

Tình hình đó khiến sản xuất trong nước có nguy cơ bị đình trệ và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Từ nguyên lý 2 mặt của tỷ giá hối đoái…

Về nguyên lý, tỷ giá hối đoái có tác dụng hai mặt: Một mặt, nó có thể ảnh hưởng tích cực đến xuất nhập khẩu, nhưng mặt khác lại ảnh hưởng xấu đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Do đó, cần phải điều tiết sự thay đổi tỷ giá sao cho hợp lý để có thể vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất – kinh doanh, tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; vừa đảm bảo phục vụ cho tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát.

… Đến thực tế

Tỷ giá hối đoáiThực tế cho thấy, thâm hụt thương mại lớn thường xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: Một là, đồng nội tệ lên giá dẫn dến khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.

Hai là, luồng vốn nước ngoài đổ vào nhiều, cung tiền tăng nhanh kéo theo cầu hàng hoá tăng trong khi cung hàng hoá trong nước không đáp ứng được dẫn đến áp lực buộc phải nhập khẩu. Để xác định được nguyên nhân chính, cần phải có sự xem xét thấu đáo đối với tỷ giá hối đoái.

15 exim Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất hay nhập khẩu?
Tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi cho xuất khẩu hay nhập khẩu?


Qua phân tích tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực, chúng ta có thể thấy một số kết quả bước đầu như sau:

- Nếu lấy năm 2000 làm gốc thì tỷ giá hối đoái VND/USD danh nghĩa tăng 13,7% (tức là VND giảm giá 13,7%), trong khi tỷ giá hối đoái thực giảm còn 93,9% (nghĩa là trên thực tế, VND đang tăng giá khoảng 6,1% so với USD).

Lý do là mặc dù tỷ giá danh nghĩa tăng nhưng lạm phát của Việt Nam từ năm 2004 đến nay cao hơn nhiều với lạm phát của Mỹ. Điều này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đang ở thế bất lợi, mặc dầu tăng về kim ngạch nhưng lợi nhuận lại giảm dần;

- Tuy nhiên, nếu chúng ta tính cho một rổ tiền tệ gồm 19 đồng tiền (kể cả USD), tức là tính tỷ giá hối đoái thực hiệu quả (real effective), thì kết quả có vẻ khác: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa của VND so với rổ tiền tệ tăng 20% và tỷ giá thực hiệu quả tăng 11,9%; điều này có nghĩa là trên thực tế VND đang mất giá so với rổ tiền tệ 11,9%.

Lý do là VND gắn với USD trong khi đồng tiền này mất giá mạnh so với nhiều đồng tiền khác. Ví dụ, từ năm 2002 đến nay, USD đã mất giá khoảng 16% so với Franc Thuỵ Sĩ, khoảng 22% so với Bảng Anh, khoảng 25% so với Đô- la Úc và khoảng trên 45% so với Euro.

Như vậy, về cơ bản, nếu tính cho một rổ tiền tệ thì tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi có xuất khẩu hơn là nhập khẩu.

Kết luận này có vẻ ngược lại với thực tế đang diễn ra, cụ thể là thâm hụt thương mại đang tăng lên.

Điều đó có thể được lý giải bằng hai cách: Hoặc là, do xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu thanh toán bằng USD, trong đó rủi ro hối đoái hoàn toàn do phía doanh nghiệp Việt Nam gánh chịu; vì vậy, độ co giãn của nhập khẩu với tỷ giá hối đoái rất thấp, nhất là nguyên liệu thô và khoáng sản.

Hoặc là, luồng vốn nước ngoài (bao gồm đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp, ODA, kiều hối, tín dụng thương mại,…) đổ vào quá lớn đã làm tăng cung tiền, dẫn đến tăng nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là đối với hàng tiêu dùng trong khi hàng rào thuế quan đã giảm đáng kể.

Kinh nghiệm nước bạn

15 imex2 Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất hay nhập khẩu?

Nhìn sang nước láng giềng của chúng ta là Trung Quốc, có thể thấy cho đến tận đầu những năm 1990, nước này đã sử dụng các biện pháp chủ yếu để thúc đẩy xuất khẩu như: giảm dần mức độ kiểm soát hoạt động xuất khẩu, tạo động lực khuyến khích đối với xuất khẩu thông qua các biện pháp điều chỉnh tỷ giá, ban hành chế độ giữ lại ngoại tệ, thiết lập chế độ tỷ giá kép, áp dụng chế độ khoán hợp đồng ngoại thương và một loạt các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu khác, kể cả việc sử dụng ngân sách nhà nước để bù lỗ xuất khẩu…

Những biện pháp này chủ yếu nhằm triệt tiêu bớt thiên hướng chống lại xuất khẩu do mức bảo hộ cao đối với sản xuất trong nước và tình trạng do đồng nội tệ được định giá cao tạo ra.

Trở lại Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 dự kiến tăng 22% so với năm 2007, đạt 58,6 tỷ USD, tăng khoảng 10 tỷ USD so với năm 2007.

Trong bối cảnh tỷ giá hối đoái VND/USD và lãi suất có những biến động bất lợi cho xuất khẩu, để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đề ra, cần phải có những giải pháp kịp thời nhằm tháo gỡ và chia sẻ những khó khăn với các doanh nghiệp xuất khẩu.

Giải pháp nào?

15 ques Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất hay nhập khẩu?

- Trước hết, về tỷ giá hối đoái: Trong điều kiện thâm hụt thương mại đang rất lớn, việc nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái cần được cân nhắc thận trọng, tránh để VND tăng giá quá mức vì điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu nhưng lại kích thích nhập khẩu.

Mặt khác, cũng cần thấy rằng khi thắt chặt tiền tệ thì lãi suất VND sẽ tăng và do đó, VND sẽ tăng giá. Chỉ nên xem biên độ tỷ giá hối đoái là khung điều hành của NHNN, và là dấu hiệu can thiệp của NHNN đối với thị trường hối đoái. Đồng thời, cần cho phép tất cả các NHTM mua- bán ngoại tệ tự do theo nhu cầu kinh doanh như mô hình thí điểm tại EXIMBANK hiện nay;

- Thứ hai là, cần giám sát chặt chẽ tín dụng thương mại, vay nợ nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp thương mại, kể cả các khoản tín dụng phi chính thức, cho vay mua hàng trả chậm,… nhằm hạn chế các kênh nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng lên rất nhanh;

- Thứ ba là, cần nghiên cứu áp dụng hình thức đánh thuế đối với các khoản lợi tức từ vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ngắn hạn (dưới 1 năm) với các mức thuế suất khác nhau theo từng kỳ hạn.

Trong trường hợp này, thuế suất được xem là bộ lọc nhằm khuyến khích những luồng vốn tốt, đầu tư lâu dài và hạn chế các hoạt động đầu cơ ngắn hạn; đồng thời ngăn ngừa rủi ro đào thoát luồng vốn đột ngột. Mức thuế ban đầu chỉ nên ở mức vừa đủ để có hiệu lực điều tiết và tăng dần trong dài hạn tuỳ theo diễn biến của thị trường;

- Thứ tư là, cần tăng cường các biện pháp kiểm soát nhập khẩu qua biên giới. Khối lượng hàng tiêu dùng nhập khẩu qua biên giới đã tăng lên nhanh chóng trong những năm qua.

Mặc dù chưa có số liệu chính thức về kim ngạch nhập khẩu bằng đường này, nhưng trên thực tế chúng ta có thể thấy thị trường Việt Nam đang tràn ngập hàng nhập khẩu phi chính thức từ Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Tình trạng này có nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Đây thực sự là một vấn đề phức tạp nhưng nếu làm quyết liệt thì vẫn có thể kiểm soát được.

Một giải pháp có thể xem xét là chỉ nên áp dụng mức thuế vừa phải để tránh trốn thuế, đồng thời đánh thuế kinh doanh nội địa đối với loại hàng hoá này nhằm tăng thu ngân sách hỗ trợ sản xuất trong nước;

- Thứ năm là, cần có chiến lược tổng thể nhằm định hướng xuất khẩu và nhóm hàng có giá trị gia tăng cao, đánh thuế xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, tiến tới phát triển thị trường hàng tiêu dùng nội địa như là một trong những trụ cột để tăng trưởng, thay vì tăng trưởng lệ thuộc quá lớn vào xuất khẩu và thị trường quốc tế vốn rất dễ bị tổn thương như hiện nay;

- Thứ sáu là, có thể nghiên cứu áp dụng chính sách “tỷ giá kép”, tức là tỷ giá áp dụng cho hoạt động xuất- nhập khẩu khác với tỷ giá áp dụng cho đầu tư gián tiếp: Tỷ giá cho xuất- nhập khẩu cao để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; Tỷ giá cho đầu tư gián tiếp thấp, tức là một hình thức đánh thêm thuế chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu chính phủ Mỹ với trái phiếu chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế đầu cơ ngắn hạn.

Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất hay nhập khẩu?

Từ khóa: · · ·
digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb